Quả bom thuế quan 2025: Đông Nam Á không được miễn trừ
Ngày 2 tháng 4 năm 2025, Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đưa ra mức thuế hai lớp khiến ngành dệt may châu Á choáng váng: thuế cơ bản 10% áp dụng cho tất cả hàng nhập khẩu, cộng thêm mức thuế chênh lệch lên tới 50% đối với 57 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Mức thuế của Việt Nam đạt 46%, Campuchia 49%, Thái Lan 36%.
Cú sốc của chính sách này nằm ở chỗ trong bảy năm qua, một lượng lớn năng lực sản xuất dệt may của Trung Quốc đã được chuyển dịch sang Việt Nam, Indonesia và Campuchia chính xác là để né tránh thuế Mục 301. Giờ đây Mỹ đã trực tiếp chặn con đường 'vòng qua nước thứ ba' đó.
Logic cốt lõi của chiến lược 'Trung Quốc+1' mà bạn từng nghe là chuyển các khâu thâm dụng lao động sang Đông Nam Á rồi xuất khẩu từ đó sang Mỹ. Sau tháng 4 năm 2025, lợi thế thuế quan của logic này đã bị thu hẹp đáng kể.

Thị phần Trung Quốc có thực sự suy giảm? Và đi đâu?
Hãy bắt đầu với một số dữ liệu cứng. Theo báo cáo năm 2024 của Xinhu Futures (nguồn: faxianbaogao.com), thị phần của Trung Quốc trong thị trường nhập khẩu hàng dệt may EU giảm từ 42,5% năm 2010 xuống 32,3% năm 2022, và tiếp tục xuống 26,9% trong giai đoạn tháng 1-4 năm 2023. Tại thị trường Mỹ, xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc sang Mỹ đạt đỉnh năm 2018 và sau đó suy giảm. Thị phần hàng may mặc nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc giảm từ khoảng 40% năm 2010 xuống còn khoảng 22% năm 2024 (theo ước tính ngành).
Ai đã thay thế thị phần của Trung Quốc? Trong cùng giai đoạn, thị phần kết hợp của Việt Nam, Ấn Độ và Bangladesh trong nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ tăng từ 16,9% năm 2010 lên 30,8% năm 2022. Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất – nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ từ Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 6,7% từ 2017 đến 2021 (báo cáo PDF).
Nhưng lưu ý: những thay đổi thị phần này diễn ra sau vòng thuế quan đầu tiên năm 2018, và thuế quan năm 2025 còn quyết liệt hơn nhiều so với năm 2018. Điều này có nghĩa là xu hướng của vài năm qua có thể bị phá vỡ lần thứ hai.
Tại sao Việt Nam và Indonesia trở thành mục tiêu mới?
Về bề ngoài, Mỹ đang tấn công Trung Quốc. Tuy nhiên, đánh giá bốn năm về Mục 301 (công bố tháng 5 năm 2024) nêu rõ rằng thuế quan nên bao phủ tất cả các quốc gia 'lợi dụng chuyển tải qua Trung Quốc.' Một tỷ lệ lớn sợi, vải và phụ liệu được sử dụng trong xuất khẩu hàng may mặc từ Việt Nam, Campuchia và Thái Lan sang Mỹ có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đối với 8,2 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may của Bangladesh sang Mỹ, khoảng một phần ba giá trị đến từ các đối tác thương mại thượng nguồn (Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia).
Một bài viết đặc biệt tháng 6 năm 2025 của UN News đã nêu bật nghịch lý này: 'Thái Lan chịu tác động gián tiếp qua chuỗi cung ứng Việt Nam... Ngành may mặc và dệt may phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do biên lợi nhuận bị thu hẹp và chi phí tuân thủ gia tăng.'
Indonesia là một trường hợp điển hình. Từ 2017 đến 2022, xuất khẩu của Indonesia sang Mỹ tăng từ khoảng 19,6 tỷ USD lên 31,6 tỷ USD, mức tăng 61% trong năm năm. Mỹ từng là cứu cánh cho ngành dệt may Indonesia. Nhưng sau khi bị áp thuế 36%-49% vào năm 2025, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Indonesia bị ảnh hưởng nặng nề nhất – biên lợi nhuận của họ thường chỉ từ 5-8%, và thuế quan trực tiếp xói mòn những biên lợi nhuận đó.

Cả cung và cầu đều thay đổi; đơn thuần di dời năng lực sản xuất không còn đủ
Trong thập kỷ qua, mô hình chủ đạo của các công ty dệt may Trung Quốc mở rộng ra nước ngoài là chuyển nhà máy sang Việt Nam hoặc Campuchia, tận dụng thuế suất thấp và lao động giá rẻ. Nếu thuế quan chỉ nhắm vào Trung Quốc, mô hình này hoạt động tốt. Giờ đây khi Mỹ cũng áp thuế lên Đông Nam Á, các công ty phải đối mặt với một ma trận quyết định phức tạp hơn.
Theo báo cáo tháng 12 năm 2024 của Orient Securities (nguồn: dfcfw.com), thị phần xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, EU, Nhật Bản và Anh giảm lần lượt 2,3; 0,6; 0,3 và 0,3 điểm phần trăm từ 2021 đến 2023. Thay thế các thị trường này là Nga (+1,3), Tây Á (+1,2), Châu Phi cận Sahara (+0,7), Ấn Độ (+0,6), Singapore (+0,6) và Malaysia (+0,4). Điều này báo hiệu rằng các điểm đến xuất khẩu đang đa dạng hóa từ thị trường phát triển truyền thống sang 'các thị trường phi liên minh.'
Trong khi đó, ASEAN đã vượt qua Mỹ để trở thành thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Trung Quốc. Năm 2024, Trung Quốc xuất khẩu 52,14 tỷ USD hàng dệt may sang ASEAN, chiếm 19,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước (dữ liệu từ Xinhu Futures). Điều này có nghĩa là đối với các nhà máy vải Trung Quốc, ASEAN không chỉ là trung tâm trung chuyển để 'xuất khẩu qua nước thứ ba' – bản thân nó đã là một thị trường tiêu dùng đang phát triển.
Dưới đây là so sánh dữ liệu chính:
| Thị trường | Xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc sang Mỹ (2024) | Xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sang ASEAN (2024) | Xu hướng |
|---|---|---|---|
| Giá trị (tỷ USD) | Xấp xỉ 21,3 (kết hợp Chương 61+62 HS) | 52,14 | Tổng ASEAN vượt Mỹ |
| Môi trường thuế quan | 10%-50% (2025) | Thuế thấp hoặc bằng 0 (RCEP) | Lợi thế thuế quan của ASEAN rất lớn |
| Vai trò chuỗi cung ứng | Thị trường tiêu dùng cuối cùng | Hàng trung gian + thị trường tiêu dùng cuối cùng | Vai trò kép |
Các công ty cần định nghĩa lại 'thị trường' là gì: ASEAN vừa là cơ sở gia công cho xuất khẩu, vừa là điểm đến nhập khẩu hàng tiêu dùng trong tương lai. Đối với một công ty may mặc có nhà máy tại Việt Nam, nếu xuất khẩu sang Mỹ bị chặn bởi thuế quan, việc cung cấp cho các thương hiệu địa phương hoặc xuất khẩu sang EU (tận dụng hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU) có thể là một giải pháp thay thế thực tế hơn.
Nhận thông tin chi tiết như thế này trong hộp thư của bạn.
Một email mỗi tuần. Không spam.
Chuỗi cung ứng mô-đun phân tán: Từ 'một điểm dừng' đến 'đa nút'
Một tác động sâu sắc khác của chính sách thuế quan năm 2025 là thúc đẩy quá trình chuyển đổi chuỗi cung ứng từ 'lắp ráp xuyên biên giới' sang 'phân phối mô-đun.' Theo Mark Greeven của IMD vào tháng 4 năm 2025, các quy tắc thuế quan mới không chỉ xem xét địa điểm lắp ráp cuối cùng mà còn xem xét nguồn gốc của các bộ phận, cấu trúc sở hữu của các đơn vị sản xuất và nền tảng công nghệ liên quan. Điều này có nghĩa là chỉ đơn giản chuyển bước lắp ráp cuối cùng sang Việt Nam là không còn đủ.
Ví dụ: vải của một chiếc áo khoác được dệt ở Shengze, tráng phủ ở Đông Quan, cắt ở Hàng Châu, sau đó vận chuyển sang Việt Nam để may và xuất khẩu. Theo quy tắc cũ, nước xuất xứ sẽ là 'Việt Nam.' Theo quy tắc mới, USTR có thể yêu cầu xác minh từng lớp nguồn gốc của vải, lớp phủ và khóa kéo. Nếu hàm lượng Trung Quốc vượt quá một ngưỡng nhất định (hiện chưa rõ, nhưng quy tắc được thảo luận nâng cao tiêu chuẩn 'chuyển đổi đáng kể'), hàng hóa có thể bị đánh thuế theo mức của Trung Quốc.
Để đối phó, các công ty cần phân tán các giai đoạn khác nhau qua nhiều quốc gia và thậm chí nhiều mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA). Ví dụ: vải sản xuất tại Indonesia, khóa kéo từ Bangladesh, nhãn mác làm tại Campuchia, chỉ hoàn thiện tại Thái Lan, sau đó lắp ráp tại Việt Nam. Mạng lưới này đòi hỏi khả năng điều phối cực kỳ cao và tính minh bạch tuân thủ.
Trong ngành, điều này được gọi là 'Chuỗi cung ứng mô-đun phân tán.' Ưu điểm của nó là rủi ro của một nút đơn lẻ có thể kiểm soát được – toàn bộ chuỗi sẽ không sụp đổ nếu thuế quan của một quốc gia bùng nổ. Cái giá phải trả là độ phức tạp quản lý tăng gấp đôi, thời gian giao hàng dài hơn và chi phí tồn kho cao hơn.
Dưới đây là so sánh một số chiến lược dịch chuyển phổ biến:
- Chiến lược 1: Nhà máy nước ngoài trực tiếp (Việt Nam/Campuchia) – Vẫn đối mặt với thuế cao và phải đáp ứng các quy tắc xuất xứ mới. Phù hợp với các doanh nghiệp lớn đã có chuỗi cung ứng ở nước ngoài, như Thân Châu Quốc Tế và Pou Sheng.
- Chiến lược 2: Xuất khẩu sang các thị trường phi liên minh (Châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông) – Thuế thấp hơn nhưng thị trường nhỏ hơn và chi phí logistics cao hơn. Phù hợp với các công ty chuyên ngành vừa và nhỏ.
- Chiến lược 3: Ở lại Trung Quốc và sử dụng RCEP để thương mại lẫn nhau với ASEAN – Vải Trung Quốc xuất khẩu sang các nước ASEAN, nơi quần áo được hoàn thiện và sau đó xuất khẩu sang EU hoặc Nhật Bản, tránh thuế quan Mỹ. EU có biện pháp chống bán phá giá đối với Trung Quốc, nhưng ASEAN được hưởng thuế suất bằng 0.
Không có giải pháp phổ quát nào. Các công ty phải quyết định dựa trên độ nhạy thuế quan của sản phẩm, cơ cấu khách hàng, năng lực tài chính và phạm vi quản lý. Nhưng có một điểm chung: mọi công ty đều phải nâng cấp 'năng lực tình báo địa chính trị' – biết ai áp thuế bao nhiêu khi nào, và các tiền lệ quy tắc xuất xứ mới nhất ra sao, không thể giải quyết chỉ bằng cách đọc tin tức.
Kết luận và danh sách hành động
Thuế quan Mục 301 sẽ không biến mất và thậm chí có thể tăng thêm. Chính sách năm 2025 đã cho thấy Mỹ đang nhắm vào không chỉ Trung Quốc mà còn tất cả các tuyến chuỗi cung ứng 'phụ thuộc vào Trung Quốc.' Đối với các công ty xuất khẩu dệt may và vải sợi, 2025-2028 là giai đoạn cửa sổ quan trọng.
Dưới đây là ba điều bạn có thể làm ngay lập tức:
- Đánh giá rủi ro xuất xứ sản phẩm của bạn với Hải quan Mỹ – Thuê luật sư thương mại chuyên biệt (ví dụ: Fangda Partners) để tiến hành kiểm toán xuyên suốt chuỗi cung ứng và xác định tỷ lệ phần trăm thực sự của hàm lượng Trung Quốc trong thành phẩm của bạn.
- Tối ưu hóa danh mục khách hàng – Ngừng coi Mỹ là khách hàng lớn duy nhất của bạn. ASEAN, Trung Đông, Châu Phi và Mỹ Latinh đều đang tăng trưởng. Đa dạng hóa khách hàng ít nhất giúp phòng ngừa rủi ro chính sách đơn thị trường.
- Tăng cường tính minh bạch tuân thủ – Các chứng nhận về tính bền vững, tiêu chuẩn lao động và an toàn hóa chất (ví dụ: OEKO-TEX, GOTS, bluesign) chưa bắt buộc tại Mỹ nhưng đã xuất hiện trong danh sách xem xét của USTR. Xây dựng tuân thủ trước sẽ biến nó thành rào cản cho đối thủ trong tương lai.
Thuế quan là con dao hai lưỡi không bao giờ chỉ cắt người khác. Nhưng những ai chuẩn bị trước ít nhất biết hướng nào để né tránh.





